Từ Trái Nghĩa. Phân Loại Từ Trái Nghĩa

21 lượt xem - Posted on

Theo nghĩa, nhưng những từ thuộc cùng một phần của lời nói. Chúng có cách viết và âm thanh khác nhau. Rất thuận tiện để xác lập nghĩa của từ trái nghĩa này qua từ trái nghĩa khác, chỉ cần đưa nó về dạng phủ định là đủ. Ví dụ, một từ trái nghĩa trực tiếp cho từ nói – không im lặng, buồn – không vui vân vân. Trong bài viết này, hàng loạt tất cả chúng ta sẽ xem xét khái niệm “từ trái nghĩa” một cách chi tiết hơn và tìm hiểu những loại của chúng.

Thông tin chung

Do sự đa dạng và phong phú của ngôn từ Nga, có nhiều sắc thái và sự tinh xảo trong bất kỳ phần nào của bài phát biểu. Không phải vô cớ mà rất nhiều sách giáo khoa về ngôn từ học được điều tra và nghiên cứu trong những trường học và 1 số ít cơ sở giáo dục đại học.

  1. Đáng chú ý chăm sóc là, do sự mơ hồ, những từ trái nghĩa của cùng một từ trong những ngữ cảnh khác nhau cũng khác nhau. Ví dụ: heo rừng già – heo rừng non, xe cũ – xe mới, phomai cũ – phomai tươi vân vân.
  2. Không phải mọi đơn vị chức năng công dụng chức năng tính năng tính năng từ vựng đều có từ trái nghĩa. Ví dụ, chúng không phải là may, viện, sách vân vân.
  3. Đặc điểm chính là sự trái chiều của những từ có nghĩa:
  • thuộc tính của chủ thể ( thông minh – ngu ngốc, xấu xa – tốt bụng);
  • các hiện tượng kỳ lạ kỳ lạ kỳ lạ kỳ lạ kỳ lạ kỳ lạ kỳ lạ tự nhiên và xã hội ( tài – tầm thường, nóng – lạnh);
  • trạng thái và hành vi ( tháo rời – thu thập, quên – nhớ).

Các loại từ trái nghĩa

Chúng khác nhau về cấu trúc.

  • Từ trái nghĩa một gốc là những từ trái nghĩa về nghĩa, nhưng có cùng một gốc. Ví dụ: yêu – không thích, tiến bộ – thoái lui. Chúng được hình thành bằng cách thêm những tiền tố (non-, without / with-, re-, de-, v.v.).
  • Từ trái nghĩa khác gốc là những từ có nghĩa và có nhiều gốc khác nhau. Ví dụ: lớn – nhỏ, đen – trắng.

Đổi lại, loại thứ nhất cũng được chia thành: từ trái nghĩa-từ ngữ (trung thành diễn đạt sự đối lập, khác biệt, ví dụ: đáng kể – không đáng kể) và enantiosemes (thể hiện sự phản đối bằng cùng một từ, ví dụ: lượt xem(theo nghĩa nhìn thấy) và lượt xem(nghĩa là bỏ qua).

Một nhóm khác cũng được phân biệt: từ trái nghĩa theo ngữ cảnh là những từ chỉ khác nhau về nghĩa trong một trường hợp cụ thể. Ví dụ, trong phần trình diễn của tác giả: cô ấy đã không phải mắt– một mắt.

Ý nghĩa của từ trái nghĩa như sau.

  • Đối lập: chúng biểu lộ những cực của hành động, hiện tượng hoặc dấu hiệu. Theo quy tắc, giữa những từ trái nghĩa tương tự, bạn trọn vẹn trọn vẹn trọn vẹn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn có thể đặt một từ có nghĩa trung tính: sự vui mừng– lạnh nhạt – buồn, tích cực– lạnh nhạt – từ chối.
  • Vectơ: chúng biểu lộ những hành vi đa hướng: đưa vào – cất cánh, mở – đóng.
  • Đối cực: biểu lộ đặc thù đối cực của những sự vật, hiện tượng và dấu hiệu, mỗi cái loại trừ cái kia. Không thể đặt một từ trung lập giữa chúng: phải trái.

Chức năng của từ trái nghĩa

Trong câu, những từ trái nghĩa đóng vai trò phong thái và được dùng để làm cho lời nói trở nên biểu cảm hơn. Thường thì chúng được dùng như một phản đề (đối lập, tương phản). Ví dụ: “Ai đã từng là không ai, người đó sẽ trở thành tất cả.” Đôi khi những từ trái nghĩa tạo thành một oxymoron (kết nối của những điều không tương thích). Ví dụ: “Tuyết nóng”, “Xác sống”.

Từ trái nghĩa được sử dụng thoáng đãng không chỉ trong tên tác phẩm, mà còn trong tục ngữ và câu nói.

) những từ trái nghĩa được chia thành những lớp tương ứng, trong đó chính là:

1) Từ trái nghĩa biểu lộ sự trái chiều về chất. Họ nhận ra điều ngược lại và biểu lộ sự trái chiều dần dần (từng bước): “ dễ dàng“(‘đơn giản, vặt vãnh’) -” dễ “,” khó trung bình “,” không dễ “-” khó” (‘phức tạp’); cf. “easy” – “khó khăn”, “dễ dàng” – “khó khăn”. Những từ định tính có tiền tố not-, bez- chỉ là những từ trái nghĩa nếu chúng đại diện thay mặt thay mặt cho những thành phần hạn chế, cực đoan của quy mô trái nghĩa: “culture” – (“không khá văn hóa”) – “không văn minh”; “mạnh” – (“yếu”) – “bất lực” (= “yếu”). Những xích míc như “cao” – “thấp” (xem “thấp”) không tạo thành từ trái nghĩa. Điều này có thể gồm có điều kiện những chỉ định của những tọa độ thời hạn và khoảng chừng trống chính, hiển thị những bước: “ngày kia”, “hôm qua”, “hôm nay”, “ngày mai”, “ngày kia”; cf. “Dưới”, (“giữa”), “trên” (khoảng tầng của ngôi nhà).

2) Từ trái nghĩa biểu lộ tính bổ trợ cho nhau (tính bổ sung). Thang đo trái chiều được đại diện bởi hai thành viên đối lập, bổ trợ cho nhau về tổng thể, để cái này cho giá trị của cái kia: “not + true” = “false”; cf. “Mù” – “nhìn thấy”, “ướt” – “khô”, “quan sát” – “vi phạm”, “cùng nhau” – “xa nhau”, v.v.

3) Từ trái nghĩa biểu lộ hướng trái chiều của hành động, tín hiệu và tính chất. Sự trái chiều này trong ngôn từ dựa trên những khái niệm trái chiều về mặt logic: “thu thập” – “tháo rời”, “đốt cháy” – “dập tắt”, “nhập” – “rời đi”, “cách mạng” – “phản cách mạng”, “nhân dân” – “Chống người”.

Theo cấu trúc của chúng, những từ trái nghĩa được chia thành không như nhau (“tốt” – “xấu”, “bắt đầu” – “kết thúc”, “nhanh chóng” – “từ từ”) và từ đơn gốc (“nhập” – “thoát”, “văn hóa ”-“ vô văn hóa truyền thống truyền thống truyền thống ”,“ cách mạng ”-“ phản cách mạng ”). Một số từ trái nghĩa đặc biệt, không có tác dụng, được hình thành bởi những từ tích hợp những nghĩa trái ngược nhau: “mượn” – 1) “cho vay” và 2) “mượn”, “có lẽ” – 1) “có thể” và 2) “chắc chắn là, một cách chính xác’. Hiện tượng này được gọi là từ trái nghĩa trong từ, hoặc enantiosemy.

Có một cách hiểu hẹp hơn về từ trái nghĩa, ví dụ điển hình như chỉ định tính và chỉ những từ không đồng nhất, nhưng cách hiểu về từ trái nghĩa này không hoàn toàn tính đến tổng thể và toàn diện những năng lực diễn đạt từ trái nghĩa trong ngôn ngữ.

  • Xem văn học tại bài viết.

L. A. Novikov.

Từ điển bách khoa toàn thư ngôn ngữ. – M.: Bách khoa toàn thư Liên Xô.
Ch. ed. V. N. Yartseva.
1990
.

Xem “Từ trái nghĩa” trong những từ điển khác là gì:

    ANTONYMS– (từ anti … và tên onyma trong tiếng Hy Lạp), những từ thuộc một bộ phận của lời nói có nghĩa ngược lại, ví dụ nói dối thật, nghèo giàu … Bách khoa toàn thư hiện đại

    ANTONYMS– (từ anti … và tên onyma trong tiếng Hy Lạp) những từ có nghĩa ngược lại. Ví dụ: thực sự là dối trá, người giàu nghèo … Từ điển Bách khoa toàn thư lớn

    ANTONYMS– (từ tiếng Hy Lạp anti … – chống lại + onoma – tên). 1. Những từ có nghĩa trái ngược nhau. Cơ sở của từ trái nghĩa là sự hiện hữu trong nghĩa của từ một đặc thù về chất có thể tăng hoặc giảm và đạt đến chiều ngược lại. Cho nên… … Một từ điển mới về những thuật ngữ và khái niệm phương pháp luận (lý thuyết và thực hành thực tiễn giảng dạy ngôn ngữ)

    Từ trái nghĩa– (từ anti … và tên onyma trong tiếng Hy Lạp), những từ thuộc một phần của bài phát biểu có nghĩa ngược lại, ví dụ, “sự thật là dối trá”, “nghèo giàu”. … Từ điển Bách khoa toàn thư có Minh họa

    Từ trái nghĩa– (tiếng Hy Lạp αντί “chống lại” + όνομα “tên”) đây là những từ thuộc cùng một bộ phận của lời nói, khác nhau về âm thanh và chính tả, có nghĩa từ vựng trái chiều trực tiếp: nói dối thật, thiện ác, nói im lặng. Từ trái nghĩa theo loại biểu lộ … Wikipedia

    Từ trái nghĩa– (từ tiếng Hy Lạp chống lại – ‘chống lại’ + onyma – ‘tên’) – những cặp từ của một phần lời nói có nghĩa trái ngược nhau. Cơ sở tâm ý của sự sống sót của A. là sự link tương phản; lôgic – khái niệm trái chiều và mâu thuẫn. Lập bản đồ những mối quan hệ … Từ điển bách khoa toàn thư phong thái của tiếng Nga

    từ trái nghĩa– (từ tên anti anti + onima trong tiếng Hy Lạp). Những từ có nghĩa trái ngược nhau. Cơ sở của từ trái nghĩa là sự hiện diện trong nghĩa của từ một đặc thù về chất có thể tăng hoặc giảm và đạt đến chiều ngược lại. Do đó, đặc biệt quan trọng quan trọng là nhiều … Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ

    từ trái nghĩa– (Tên chống lại và onuma trong tiếng Hy Lạp) Các từ thuộc cùng một bộ phận của lời nói có nghĩa trái chiều đối sánh đối sánh tương quan với nhau; yêu ghét. Không phải tổng thể những từ đều trái nghĩa. Theo cấu tạo của từ, những từ trái nghĩa được phân biệt: 1) … … Từ điển thuật ngữ ngôn từ học T.V. Con ngựa con

    từ trái nghĩa– (từ tiếng Hy Lạp chống lại và onoma – tên), những từ được nối bằng quan hệ trái nghĩa, ví dụ: chiến thắng – thất bại, đùa cợt – nghiêm túc. Một từ đa nghĩa có những từ trái nghĩa khác nhau với những nghĩa khác nhau: mềm – nhẫn tâm, cứng, cứng. Văn học và … Bách khoa toàn thư văn học

    từ trái nghĩa– buồng trứng; làm ơn (từ trái nghĩa số ít, a; m.) [từ tiếng Hy Lạp. chống lại và tên onima, tên]. Lingu. Những từ mang nghĩa trái ngược nhau (ví dụ: thật giả dối, giàu nghèo, yêu ghét). ◁ Trái nghĩa, oh, oh. Một cuốn từ điển. Và không có mối quan hệ. Và e…… từ điển bách khoa

(từ tiếng Hy Lạp chống lại, ónyma – tên) – đây là những từ có nghĩa trái ngược nhau khi được sử dụng theo cặp. Những từ đó đi vào quan hệ trái nghĩa, từ đó bộc lộ những khái niệm tương quan từ hai phía trái chiều gắn liền với một vòng tròn của sự vật, hiện tượng. Các từ tạo thành những cặp trái nghĩa dựa trên nghĩa từ vựng của chúng. Một và cùng một từ, nếu nó không rõ ràng, có thể có 1 số ít từ trái nghĩa.

xảy ra trong tất cả những phần của lời nói, tuy nhiên, những từ của một cặp trái nghĩa phải thuộc cùng một phần của lời nói.

Không đi vào những quan hệ trái nghĩa:

– danh từ có nghĩa riêng (nhà, sách, trường), tên riêng;

– chữ số, hầu hết những đại từ;

– những từ biểu lộ giới tính (đàn ông và đàn bà, con trai và con gái);

– những từ với cách tô màu khác nhau;

– những từ có trọng âm lúp hoặc nhỏ (bàn tay – bàn tay, ngôi nhà – ngôi nhà).

Theo cấu trúc của chúng, những từ trái nghĩa không đồng nhất. Trong số đó có:

– từ trái nghĩa một gốc: niềm hạnh phúc – bất hạnh, mở – khép lại;

– từ trái nghĩa không đồng nhất:đen – trắng, tốt – xấu.

Hiện tượng từ trái nghĩa có quan hệ mật thiết với từ đa nghĩa. Mỗi nghĩa của từ có thể có những từ trái nghĩa riêng. Vâng, từ tươi theo những nghĩa khác nhau sẽ có những cặp từ trái nghĩa khác nhau: tươi gió – oi bức gió, tươi bánh mỳ – bánh mỳ, tươiáo sơ mi – dơ bẩnáo sơ mi.

Các quan hệ trái nghĩa cũng có thể phát sinh giữa những nghĩa khác nhau của cùng một từ. Ví dụ, xem qua có nghĩa là “làm quen với điều gì đó, kiểm tra, kiểm tra nhanh, xem qua, đọc” và “bỏ qua, không nhận thấy, bỏ sót”. Sự kết hợp của những nghĩa trái ngược nhau trong một từ được gọi là enantiosemy.

Tùy theo đặc thù phân biệt mà từ trái nghĩa có, có thể phân biệt hai loại từ trái nghĩa. ngôn ngữ chung(hoặc đơn thuần ngôn ngữ) và lời nói theo ngữ cảnh(tác giả hoặc cá nhân).

Từ trái nghĩa trong ngôn từ phổ biến liên tục được tái tạo trong lời nói và cố định và thắt chặt trong vốn từ vựng (ngày – đêm, nghèo – giàu).

Từ trái nghĩa trong lời nói theo ngữ cảnh– đây là những từ chỉ quan hệ trái nghĩa trong một ngữ cảnh nhất định: Hát hay hơn với chim sơn ca hay hơn với chim sơn ca.

Việc sử dụng những từ trái nghĩa làm cho lời nói trở nên sinh động và biểu cảm hơn. Từ trái nghĩa được sử dụng trong cách nói thông tục và nghệ thuật, trong nhiều tục ngữ và câu nói, trong nhan đề của nhiều tác phẩm văn học.

Một trong những hình tượng phong cách được kiến thiết thiết kế kiến thiết xây dựng dựa trên sự trái chiều rõ ràng của những từ trái nghĩa – phản đề(đối lập) – một đặc thù bằng cách so sánh hai hiện tượng hoặc tín hiệu đối lập: Mặt trời muôn năm, hãy để bóng tối ẩn hiện! (A.S. Pushkin). Các nhà văn thường xây dựng tiêu đề của những tác phẩm bằng kỹ thuật này: “Chiến tranh và hòa bình” (L.N. Tolstoy), “Những người cha và con trai” (I.S. Turgenev), “Dày và mỏng” (A.P. Chekhov), v.v.

Một công cụ tạo kiểu khác, dựa trên sự so sánh những nghĩa trái nghĩa, là oxymoron hoặc oxymoron(gr. oxymoron – lit. dí dỏm-ngu ngốc) – một hình tượng trong lời nói trong đó những khái niệm không thích hợp về mặt logic được liên kết với nhau: xác sống, linh hồn đã chết, tiếng chuông im lặng.

Từ điển từ trái nghĩa sẽ giúp bạn chọn từ trái nghĩa cho một từ.Từ điển từ trái nghĩa– từ điển tìm hiểu thêm ngôn từ học miêu tả những từ trái nghĩa. Ví dụ, trong từ điển L.A. Vvedenskaya Việc lý giải hơn 1000 cặp từ trái nghĩa được đưa ra (các tương ứng đồng nghĩa tương quan tương quan tương quan tương quan tương quan tương quan của chúng cũng được tính đến), những ngữ cảnh sử dụng được đưa ra. NHƯNG trong từ điển của N.P. Kolesnikova từ trái nghĩa và từ đồng nghĩa được cố định. Cuốn sách chứa khoảng 3.000 từ viết tắt và hơn 1.300 cặp từ trái nghĩa. Không có hình ảnh minh họa về việc sử dụng từ trái nghĩa trong từ điển.

Ngoài những từ điển trái nghĩa thuộc loại chung, còn có những từ điển riêng thay thế sửa chữa những quan hệ đối cực trong 1 số ít ít ít ít khoanh vùng phạm vi hẹp của từ vựng. Điều này bao gồm, ví dụ, từ điển về những đơn vị từ trái nghĩa-cụm từ, từ điển về từ trái nghĩa-phép biện chứng, v.v.

Chúng ta hãy xem xét những điểm chung nhất ví dụ về từ trái nghĩa: thiện ác; tốt xấu; bạn-thù; ngày đêm; nhiệt – lạnh; độc lập – chiến tranh, cãi vã; đúng sai; thành công xuất sắc thất bại; lợi – hại; giàu – nghèo; khó khăn vất vả vất vả dễ dàng; hào phóng – keo kiệt; dày mỏng; cứng – mềm; quả cảm – hèn nhát; Trắng đen; nhanh – chậm; cao thấp; vừa đắng vừa ngọt; nóng lạnh; ướt khô; no – đói; mới – cũ; to nhỏ; cười – khóc; nói – im lặng; yêu ghét.

Bạn có câu hỏi nào không? Không thể tìm thấy một từ trái nghĩa cho một từ?
Để nhận được sự giúp sức của một gia sư – đăng ký.
Bài học đầu tiên là miễn phí!

trang web, với việc sao chép hàng loạt hoặc một phần tài liệu, cần có liên kết đến nguồn.

Từ trái nghĩa là những từ thuộc một bộ phận của lời nói, khác nhau về âm thanh và chính tả, có nghĩa từ vựng trái chiều trực tiếp, ví dụ: “sự thật” – “sai lầm”, “tốt” – “ác”, “nói” – “giữ im lặng”.

Các loại từ trái nghĩa:

1. Đa dạng. Loại từ trái nghĩa này là tiêu biểu nhất. Các nghĩa trái chiều thuộc về tổng thể những từ này (ví dụ, cao – thấp, nóng – lạnh, đuổi kịp – tụt hậu, v.v.). Một số giới từ được dùng làm từ trái nghĩa (ví dụ, for and before (đằng sau tủ quần áo – trước tủ quần áo), in and out (vào phòng – ra khỏi phòng).

2. Gốc đơn. Đối với họ, ý nghĩa của điều ngược lại được biểu lộ không phải bằng những bộ phận gốc của từ, mà bằng những dấu nối phụ tố. Từ trái nghĩa phát sinh trên sự trái chiều của những tiền tố (ví dụ, at- và u- (đến – rời đi), v- và s- (leo lên – xuống), hoặc do việc sử dụng những tiền tố phủ định làm cho từ ngược lại nghĩa (ví dụ, biết chữ – mù chữ, ngon – vô vị, quân sự chiến lược – phản chiến, cách mạng – phản cách mạng, v.v.).

3. Từ trái nghĩa theo ngữ cảnh (hoặc theo ngữ cảnh) là những từ không trái chiều về nghĩa trong ngôn từ và là từ trái nghĩa chỉ có trong văn bản: Tâm và trái tim – băng và lửa – đây là điều chính làm nên nét riêng cho anh hùng này.

4. Enantiosemy – trái chiều với nghĩa của cùng một từ. Đôi khi không phải những từ riêng không tương quan gì đến nhau có thể trái nghĩa, nhưng có nghĩa khác nhau của một từ (ví dụ, từ vô giá, có nghĩa là: 1. có giá rất cao (báu vật vô giá) 2. không có bất kỳ giá nào (mua không có gì, tức là rất rẻ ) Từ ban phước, nghĩa là: 1. hạnh phúc tột cùng (trạng thái hạnh phúc) 2. ngu xuẩn (trước đó có nghĩa là ngu xuẩn).

5. Tương xứng (có những hành vi trái ngược nhau: tăng – giảm, béo lên – giảm cân) và không phù hợp (không hành vi trái chiều với một số hành động: bỏ – ở, nhẹ – dập tắt).

6. Ngôn ngữ (tồn tại trong mạng lưới hệ thống ngôn ngữ: cao – thấp, phải – trái) và khẩu ngữ (hình thành theo những lượt lời: vô giá – vô giá trị, sắc đẹp – đầm lầy kikimara);

Chức năng của từ trái nghĩa:

1. Chức năng chính tả của từ trái nghĩa là một phương tiện đi lại đi lại đi lại từ vựng để xây dựng một phản đề. P: Và chúng tôi ghét, và chúng tôi yêu một cách tình cờ.

2. Đối lập với phản nghĩa là tiếp nhận, gồm có việc sử dụng từ trái nghĩa với phủ định. Nó được sử dụng để nhấn mạnh vấn đề vấn đề sự thiếu chất lượng được xác lập rõ ràng trong đối tượng người dùng người dùng người dùng người dùng được mô tả. P: Cô ấy không tốt, không xấu

3. Từ trái nghĩa là cơ sở của oxymoron (từ oxymoron trong tiếng Hy Lạp là ‘dí dỏm-ngu ngốc’) – một hình tượng theo phong cách tạo ra một khái niệm mới bằng cách kết hợp những từ tương phản về nghĩa. P: Bóng của những sinh vật chưa được xử lý lắc lư trong giấc ngủ. Giống như những lưỡi dao Lotanium trên một bức tường tráng men (Bryusov).

4. Từ trái nghĩa được sử dụng để nhấn mạnh mức độ bao quát của những cặp trái nghĩa được miêu tả – xâu chuỗi. P: Trên đời có thiện và ác, gián trá và chân lý, buồn chán và vui sướng.

Đảo ngữ – việc sử dụng một trong những từ trái nghĩa, trong khi cần phải sử dụng từ khác: ở đâu, thông minh, bạn đang lang thang, đầu? (ám chỉ con lừa). Các cặp từ trái nghĩa phải hợp lý.

Từ đồng âm, những loại từ đồng âm. Từ viết tắt. Paronomasia. Chức năng của từ đồng âm và từ viết tắt trong lời nói.

Từ đồng âm– đây là những từ thuộc cùng một bộ phận lời nói, giống nhau về âm thanh và chính tả, nhưng khác về nghĩa từ vựng, ví dụ: boron – “rừng thông mọc ở nơi khô ráo, trên cao” và boron – “mũi khoan thép dùng trong nha khoa ”.

Các loại từ đồng âm.

Có từ đồng âm vừa đủ và từng phần. Các từ đồng âm đầy đủ thuộc cùng một bộ phận của lời nói và trùng hợp ở mọi dạng, ví dụ: chìa khóa (từ căn hộ) và chìa khóa (lò xo). Và từ đồng âm từng phần là những từ phụ âm, một trong số đó chỉ trùng khớp hoàn toàn với một phần những dạng của từ khác, ví dụ: khôn khéo (theo nghĩa “chơi giải pháp cuối cùng”) và khôn khéo (theo nghĩa “quy tắc lịch sự”). Từ mang nghĩa thứ hai không có dạng số nhiều.

Từ viết tắt(từ tiếng Hy Lạp para “near, next to” + onyma “name”) – những từ giống nhau về âm thanh, gần về cách phát âm, liên kết từ vựng và ngữ pháp cũng như tương quan của những gốc, nhưng có nghĩa khác nhau. Các từ viết tắt trong hầu hết những trường hợp đều dùng để chỉ một phần của bài phát biểu. Ví dụ: ăn mặc và mặc vào, người ĐK và người đăng ký, khôn ngoan hơn và khôn ngoan hơn. Đôi khi từ viết tắt còn được gọi là bạn bè giả.

Hiện tượng hòn đảo ngữ (từ gr. Para – near, onomazo – tôi gọi) bao gồm sự giống nhau về âm thanh của những từ có gốc hình thái khác nhau (ví dụ: bunks – xe trượt tuyết, pilot – boatwain, clarinet – cornet, tiêm – nhiễm trùng). Cũng như với từ viết tắt, những cặp từ ghép trong cụm từ ghép thuộc về cùng một bộ phận của lời nói, triển khai những chức năng cú pháp tựa như trong một câu. Những từ như vậy có thể có tiền tố, hậu tố, kết thúc giống nhau, nhưng gốc của chúng luôn khác nhau. Ngoài những điểm tương tự ngẫu nhiên về ngữ âm, những từ trong những cặp từ vựng như vậy không có điểm chung nào, quy chiếu chủ đề – ngữ nghĩa của chúng hoàn toàn khác nhau.

Không giống như từ viết tắt, paronomasia không phải là một hiện tượng tự nhiên và thường xuyên. Và mặc dù có nhiều từ giống nhau về mặt ngữ âm trong ngôn ngữ, việc so sánh chúng như những cặp từ vựng là kết quả của nhận thức cá nhân: một người sẽ thấy từ ngữ nhại trong một cặp từ lưu hành – loại, từ còn lại – lưu hành – ảo ảnh, thứ ba – đang lưu hành. – kính màu. Tuy nhiên, từ viết tắt và viết tắt gần giống nhau về cách sử dụng những từ có âm giống nhau trong lời nói.

Việc sử dụng từ đồng âm và từ viết tắt trong lời nói

(Từ đồng âm). Giống như những từ đa nghĩa, từ đồng âm được sử dụng ở những vị trí mạnh loại trừ lẫn nhau. Điều này làm cho nó có thể thực thi chức năng ngữ nghĩa chính của từ đồng âm – để phân biệt những từ khác nhau về nghĩa và trùng khớp về vỏ âm thanh. Vì những từ này không tương quan về nghĩa, không có động cơ, sức mạnh loại trừ lẫn nhau của chúng trong văn bản lớn hơn nhiều. cho nghĩa (LSV) của một từ đa nghĩa.

Việc sử dụng liên hệ của những từ đồng âm trong văn bản hoặc thậm chí còn “lớp phủ” của chúng, việc “hợp nhất” hoàn chỉnh trong một hình thức thực hiện những chức năng văn phong nhất định, là một phương tiện để tạo ra một cách chơi chữ, một sự va chạm tượng hình của các ý nghĩa khác nhau, diễn đạt được nhấn mạnh: Tôi có thể lấy một người vợ không có tài sản mà có thể quỵt nợ cô ấy rách nát thì tôi không có năng lực (P.); Bằng cách trả nợ, bạn sẽ hoàn thành xong nó (Kozma Prutkov). Tính biểu cảm của khẩu hiệu Mir – độc lập được nhấn mạnh bằng cách sử dụng các từ đồng âm.

(Từ viết tắt)

Các từ viết tắt có thể được sử dụng trong lời nói như một phương tiện biểu đạt.

Thông thường, các tác giả đặt các từ viết tắt cạnh nhau để biểu lộ sự độc lạ về ngữ nghĩa với sự tương tự rõ ràng: Bất kỳ người nào, kể từ khi sống trong xã hội, là một nhà nhân văn theo nghĩa mà anh ta giải thích, sửa chữa, đánh giá hành vi thực tế và triết lý của mình và của người khác trong phạm trù tư duy nhân đạo (không nhất thiết là nhân đạo đáng tiếc). (V. Ilyin, A. Razumov); Đây là cách nó xảy ra khi lòng tin bị nhầm lẫn với sự cả tin. (Y. Dymsky).

Sự xung đột của các từ viết tắt có thể được sử dụng để làm điển hình nổi bật những từ này, giúp nâng cao ý nghĩa mà chúng biểu đạt: Đã viết một bức thư mang tính kinh doanh thương mại và hiệu suất cao cho Valerian (L. Tolstoy).

Vì vậy, việc sử dụng khéo léo các từ viết tắt giúp diễn đạt một cách đúng mực và đúng mực một ý nghĩ, cho thấy khả năng tuyệt vời của tiếng Nga trong việc chuyển tải những sắc thái ngữ nghĩa tinh tế.

Chức năng ngữ nghĩa của từ trái nghĩa.

Chức năng phong cách của từ trái nghĩa.

Việc sử dụng từ trái nghĩa trong lời nói.

Từ điển từ trái nghĩa.

Các sự vật, hiện tượng của quốc tế xung quanh chúng ta không chỉ có quan hệ tương đồng (đồng nghĩa từ vựng), mà còn có quan hệ độc lạ hoặc đối lập.

Những từ trái nghĩa được gọi là từ trái nghĩa(từ tiếng Hy Lạp. chống lại– “chống lại” và onyma– “Tên”). Các từ có nghĩa từ vựng trái ngược nhau tìm thấy các liên kết ngữ nghĩa ổn định trong ngôn ngữ, tạo thành các cặp từ trái nghĩa (mô hình): sống chết,chiến tranh – hòa bình,to nhỏ, mới – cũ,vào – ra, hiện tại – tương lai và vân vân.

Một đặc điểm đơn cử của quy mô trái nghĩa (cặp) là sự ghép đôi của nó: nó luôn bao gồm các thành viên tích cực và tiêu cực. Từ trái nghĩa, là một trong những bộc lộ của quy mô từ vựng của một ngôn ngữ, là những nhóm từ có liên quan với nhau bởi sự giống nhau và khác nhau về các tính năng. Sự giống nhau nằm ở thực tế là cơ sở ý nghĩa của các từ trái nghĩa là đặc điểm chung và cần thiết nhất so với họ, ví dụ: khối lượng ( nặng nhẹ), quan tâm ( thông minh – ngu ngốc), nếm ( vừa đắng vừa ngọt), Màu sắc ( đen trắng), Hướng di chuyển ( tăng – giảm, vào – ra), tương ứng với thực tế ( đúng sai) vân vân.

Sự khác biệt giữa các từ trái nghĩa đạt đến mức độ cực đoan, chuyển thành trái nghĩa. Từ trái nghĩađại diện đối lập trong cùng một thực thể(các định nghĩa trái chiều về một bản chất, một sự vật, dấu hiệu, hiện tượng). Đây là vô cùng những biểu lộ trái chiều của một bản chất, cựcđịnh nghĩa. Từ trái nghĩa đóng vai trò là tín hiệu của một thể thống nhất được chia thành các mặt trái chiều (ví dụ, chiều cao của một người được xác định theo chiều dọc từ thấp đến cao, thể tích (kích thước) của một vật thể được xác định trên mặt phẳng nằm ngang từ nhỏ đến lớn, v.v.).

Từ trái nghĩa biểu lộ giới hạn bộc lộ của bất kỳ phẩm chất, đặc thù nào, các hành động, ví dụ, một người với tư cách là một thực thể sinh học có thể ở hoặc ở trạng thái sự sống, hoặc của cái chết; một đối tượng trên cơ sở “thời gian sống sót của nó, thời hạn kể từ khi nó được sản xuất” có thể là Mới hoặc (quần dài
hoặc Mới
).

Không phải tất cả các từ đều có liên kết trái nghĩa. Chỉ những từ như vậy mới có thể có quan hệ trái nghĩa, ngữ nghĩa của chúng có thể diễn đạt giới hạn bộc lộ của smth., có thể có biểu lộ cực. Trước hết, các từ bộc lộ dấu hiệu, phẩm chất hoặc đặc tính có thể là từ trái nghĩa, vì chính chúng có thể được trái chiều như đối cực, đối lập. Không phải ngẫu nhiên mà các quan hệ trái nghĩa thường kết nối tính từ và trạng từ ( nóng lạnh,dày mỏng,nhanh – chậm, tốt – xấu). Các kết nối trái nghĩa cũng tăng trưởng trong danh từ biểu lộ các tọa độ cực (điểm, vị trí) trên bất kỳ thang tham chiếu nào ( ngày đêm,sống chết). Từ trái nghĩa cũng có thể là động từ gọi tên các biểu hiện của xúc cảm ( buồn – vui,yêu ghét) hoặc các hành vi được chỉ huy một cách chống đối ( vào – ra,thu thập – tách rời).

Các danh từ có nghĩa đơn cử (không chiếm hữu các đặc thù đã nêu ở trên) thường không có từ trái nghĩa ( bút, vở, xe điện, đèn, bàn, gỗ, cát). Nhưng: trần – sàn là từ trái nghĩa, do tại biểu lộ các giá trị bằng các giá trị trong cặp đứng đầuđáy.

Đối với một từ đa nghĩa, các kết nối trái nghĩa khác nhau có thể được hình thành cho mỗi nghĩa của nó (xem tỷ suất tựa như giữa từ đa nghĩa và từ đồng nghĩa), nói cách khác, các LSV khác nhau của một từ đa nghĩa (từ đa nghĩa) có thể tham gia vào quan hệ trái nghĩa với các từ khác nhau. So sánh, ví dụ, so sánh các cặp trái nghĩa của các từ LSV khác nhau dày: dày
(“với tính lưu động giảm”) – chất lỏng
(kem chua đặc – kem chua lỏng) và dày
(“Bao gồm nhiều đối tượng giống hệt nằm gần nhau”) – hiếm
(rừng rậm – rừng thưa). Từ trái nghĩa và từ đồng nghĩa của một từ đa nghĩa có thể đi vào các quan hệ đồng nghĩa và trái nghĩa với nhau, xem: dễ dàngkhó(từ trái nghĩa) và khónặng(từ đồng nghĩa); do đó các từ trái nghĩa dễ dàngnặng(công việc dễ dàngcông việc khó khăncông việc khó khăn), nhưng: dễ dàng
chiếc valinặng
(không phải * khó) chiếc vali.

Các từ được bao gồm trong cặp từ trái nghĩa có thể có cả sự thích hợp chung, trùng hợp và riêng lẻ. Ví dụ: ngày
đêm
, lạnh lẽo
ngày –lạnh lẽo
đêm,Dài
ngày –Dài
đêm,ấm
ngày – ấmđêm.Nhưng: ngày nắng, nhiều mây, ảm đạmmặt trăng, sao, sâu(thời gian sau 12 giờ đêm) đêm.

Sự trái chiều trái nghĩa thường được biểu lộ bằng một cặp đơn vị từ vựng (tức là hai đơn vị). Nhưng đôi khi hai từ tương đương về mặt ngữ nghĩa có thể trái chiều với một từ trái nghĩa: bạn bè
kẻ thù
(kẻ thù
),hư không
mọi nơi
(mọi nơi
). Đây là biến thể trái nghĩa.

Không giống như từ đồng nghĩa, thể hiện danh tính và sự giống nhau, trái nghĩa bày tỏ đối nghịch b, đó là phạm trù triết họcđặc trưng của các đối tượng trong quốc tế xung quanh chúng ta. Các từ có nghĩa trái ngược nhau tạo thành các cặp và toàn bộ hệ thống đơn vị từ vựng: mới – cũ, cuộc chiến tranh – hòa bình, nhập – xuất, quá khứ – hiện tại – tương lai.

Cơ sở triết học từ trái nghĩa từ vựng là đối lập trong cùng một thực thể. Khuyết danh chỉ ra mối liên hệ không thể tách rời của các mặt trái chiều trong biểu hiện đơn cử của thực chất này. Cơ sở logic hình thức từ trái nghĩa đối nghịch các khái niệm đơn cử thể hiện giới hạn biểu hiện của chất lượng, thuộc tính hoặc tính năng được xác định bởi một khái niệm chung chung (đây là thực chất chung: dễ dàngnặng-“cân nặng”).

Có 2 loại đối lập:

1. Ngược lại đối lập: giữa các khái niệm loài cực đoan có các thành viên trung gian: lạnh – (phòng – ấm) – nóng.

2. Bổ sung: các khái niệm đơn cử bổ sung cho nhau thành một khái niệm chung, không có yếu tố trung gian, ở giữa: đúng sai. Các mặt trái chiều bổ sung phải được phân biệt các điều khoản xung đột: trẻ – không trẻ
, không phải là từ trái nghĩa, do tại không hình thành cơ sở logic của từ trái nghĩa, bởi vì khái niệm thứ hai không được định nghĩa ở đây.

Cũng cần phân biệt giữa trái nghĩa ngôn từ và ngôn ngữ.

Từ,tạo thành từ trái nghĩa: hai mô hình logic của sự trái chiều được hiện thực hóa trong ngôn từ như từ trái nghĩa, biểu lộ chất lượng (tính từ), hướng đối lập của hành vi (động từ), trạng thái của các đặc điểm, tính chất, cũng như các từ có nghĩa về tọa độ không gian và thời gian: nặng nhẹ.

Không tạo thành từ trái nghĩa: từ của các đối tượng đặt tên theo ngữ nghĩa cụ thể ( cửa sổ, bảng, báo), chữ số, tên riêng, một số đại từ (ví dụ, của tôi của bạn, cái này cái kia). Các từ trái nghĩa thường được hình thành bởi các tính từ chỉ định tính ( trẻ già), danh từ tương quan với họ ( tuổi trẻ – tuổi già), động từ tương quan với chúng ( trẻ hơn – già đi), một số giới từ ( in – from, over – under, to – from, from – to), một số đại từ ( mọi thứ – không ai, mọi thứ – không có gì, của riêng ai – của người khác).

Các từ trái nghĩa tạo thành các cấu trúc ngữ nghĩa giống nhau và khác nhau ở sự đối lập của các âm vị đối lập.

Từ trái nghĩa là một quan hệ từ vựng-ngữ nghĩa phân loại của các nghĩa đối lập được biểu thị bằng các từ khác nhau (LSV), có chức năng đối lập trong văn bản và các chức năng liên quan khác.

Từ trái nghĩa, giống như từ đồng nghĩa, là một phạm trù từ ngữ gọi tắt. Thường được biểu thị bằng một cặp đơn vị từ vựng hoặc một số từ có nghĩa trái ngược nhau.

Tất cả các từ trái nghĩa đều được đặc trưng bởi các quan hệ lôgic về giao điểm của các khái niệm, đối lập tương đương và phân bổ tương phản.

Đánh giá post này

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.